· Nguyễn Quý Hoàng Anh
Anh Giáo có phải ra đời từ một vụ ly dị?
Mở đầu
Khi nhắc đến Anh giáo, nhiều Cơ Đốc Nhân sẽ nghĩ ngay đến một vụ bê bối liên quan đến hôn nhân. Họ tin rằng Anh giáo đã được sinh ra từ mong muốn ly dị vợ của Vua Henry VIII vào thế kỷ 16. Việc cho rằng Anh giáo có nguồn gốc từ một sự kiện được hiểu là lệch với tiêu chuẩn của Kinh thánh như vậy dẫn đến sự hiểu nhầm không chỉ về nguồn gốc mà còn tính chính thống của Giáo hội Anh Giáo.
Với mong muốn giúp các Cơ Đốc Nhân nói chung và các Cơ Đốc Nhân Anh giáo ở Việt Nam nói riêng có một cái nhìn tổng quan về Anh giáo và đặc biệt là lịch sử hình thành, bài viết này sẽ cung cấp những thông tin chính xác hơn về nguồn gốc của Hội thánh Anh giáo qua việc xem xét lại lịch sử của các yếu tố đóng góp nên sự hình thành của Anh giáo.
Những thời kỳ đầu tiên của Anh giáo
Hội thánh Anh giáo (Anglican church) là cách dịch giản lược từ cụm từ ecclesia anglicana, tức nghĩa là hội thánh, hay giáo hội ở Anh. Giáo hội ở Anh, hay Hội thánh ở khu vực Anh quốc, hay Anh giáo là những khái niệm đồng nghĩa.
Anh giáo hay giáo hội Anh bắt đầu hình thành vào nhiều thế kỷ trước khi vua Henry VIII lên ngôi. Ghi chép lịch sử của linh mục St Gildas vào thế kỷ thứ 6 nhận định rằng Cơ Đốc Giáo đã đến với vùng đất Anh Rô-ma (Roman Britain), nay được gọi là nước Anh, vào khoảng năm 47 Công Nguyên, và vị Giám mục đầu tiên được cho là một trong số các môn đệ của Chúa Giê-su, có tên là Aristobulus (Rô-ma 16:10). Nói cách khác, Anh giáo được đặt nền móng vào ngay thế kỷ đầu tiên qua một trong những môn đệ của Chúa Giê-su.
Với xuất phát điểm này, khoảng 500 năm sau, đạo Cơ Đốc đã lan truyền rộng rãi các xứ sở thuộc Anh quốc cùng sự xuất hiện của nhiều nhà thờ. Tuy nhiên lúc này Anh giáo vẫn chưa đứng ra thành một hệ phái độc lập vì các nhà thờ ở Anh vẫn nằm dưới sự lãnh đạo của tòa thánh chính tại Rô-ma nơi mà có người đứng đầu là Giáo hoàng. Vào thế kỷ thứ 6, Giáo hoàng Gregory I được sự yêu cầu từ vua nước Anh, Aethelberht, để gửi những nhà truyền giáo đến với mảnh đất này. Trong số đó có thánh đồ Augustine, người đã lo lắng cho sự an toàn của mình vì những lời đồn đại về một vùng đất Anh nơi có đầy những kẻ man rợ. Tuy nhiên, trong sự bất ngờ của ông, vợ của vua Aethelberht là một Cơ Đốc Nhân đã cùng chồng của mình không những đã đón tiếp ông mà còn cho ông thực hiện nhiệm vụ truyền giáo. Kết quả của sự sai đi này là hàng ngàn người tại nước Anh đã tiếp nhận đạo Chúa, trong đó có cả vua Aethelberht. Và thánh đồ Augustine sau đó được trở thành Tổng giám mục của Canterbury, nơi được coi là tòa nhất thánh của Anh quốc.
Nói một cách ngắn gọn, nền móng của giáo hội ở Anh đã được đặt từ trước thời kỳ của vua Henry VIII. Anh giáo – hay giáo hội Anh đã được thành lập nhiều năm trước khi Henry VIII lên ngôi vua. Và trong các thế kỷ đầu tiên Anh giáo vẫn được coi là Hội thánh thuộc Công giáo La-mã vì các giám mục, linh mục, và các chức sắc khác ở các Hội thánh tại Anh vẫn nằm dưới thẩm quyền của Giáo hoàng.
Các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến sự tách ra khỏi giáo hội Công Giáo La-mã
“Anh giáo hình thành từ một vụ ly dị của vua Henry VIII” là một nhận định ngây thơ và không chính xác. Nó ngây thơ vì nó phớt lờ tính đa dạng và phức tạp của thực tế thế giới mà chúng ta đang sống. Một sự kiện lich sử có tầm ảnh hưởng sẽ không đơn thuần xuất phát từ một yếu tố duy nhất. Nó không chính xác vì nó sai lệch với những bằng chứng lịch sử.
Sự hình thành của Hội thánh tại Anh, hay Anh giáo, như chúng ta đã thấy, xuất phát từ trước thời điểm vua Henry VIIII lên ngôi trị vì. Những nhân vật lịch sử như Aristobulus và Augustine xứ Canterbury là những nhân chứng cho sự hình thành này. Nên việc Anh giáo được hình thành từ trước thế hệ của Henry VIII là điều không thể chối cãi.
Một mặt khác, cũng không thể phủ nhận rằng “sự hình thành của Anh giáo” cũng có thể được hiểu theo nghĩa khác: thời điểm Anh giáo tách ra độc lập khỏi Công giáo La-mã. Đây có khả năng cao là cách hiểu phổ thông hơn về sự hình thành của Anh giáo trong vòng nhiều cộng đồng Cơ Đốc Nhân, đặc biệt là ở Việt Nam. Không ít người nghĩ rằng Anh giáo chỉ hình thành sau khi tách ra khỏi Rô-ma và sự tách ra này đơn giản là đến từ mong muốn ly dị của vua Henry VIII.
Tuy nhiên, dù có hiểu theo nghĩa vậy, việc Anh giáo trở nên độc lập và tách ra khỏi Công giáo La-mã vẫn không phải là kết quả của một vụ ly dị của vua Henry VIII. Sự rời bỏ khỏi Công-giáo La-mã là kết quả của nhiều yếu tố phức tạp và chồng chéo lên nhau. Sau đây là năm yếu tố quan trọng đã góp phần đưa Anh giáo trở thành một hệ phái độc lập:
Sự mong muốn có người nối dõi của nhà vua. Cũng như nhiều vị vua, vua Henry VIII khao khát có người nối ngôi vua của ông. Nhưng ông đã thất vọng và bất mãn khi Catherine đã không đẻ được cho ông một người con trai sống sót khỏe mạnh để có thể nối ngôi vua. Trong khi ở chế độ quân chủ vào thời đại này thì việc có người con trai nối ngôi vua là một điều hệ trọng, Henry VIII đã nhiều lần bị làm thất vọng khi Catherine liên tục mang đến cho ông hung tin về những thai chết lưu của mình (bà đã sinh ra 6 đứa trẻ ở các thời điểm khác nhau, trong đó có 3 bé trai, nhưng 5 trong số 6 đứa trẻ bị chết non và chỉ có một bé gái duy nhất sống sót, đó chính là Mary I). Sự mong muốn có con trai, đồng thời những bất mãn trước những thất bại trong việc sinh con của Catherine đã góp một lực thúc đẩy quan trọng cho Henry VIII để tìm kiếm lối thoát khỏi sự ràng buộc giữa hai người.
Sự phức tạp trong mối quan hệ giữa Catherine và Henry VIII, và niềm tin của nhà vua. Henry VIII không phải là người chồng đầu tiên của Catherine xứ Aragon. Người chồng đầu tiên của bà, không ai khác, lại chính là anh trai của vua Henry VIII: Arthur, hoàng tử của xứ Wales – người con đầu tiên của vua Henry VII. Hôn nhân giữa Arthur và Catherine đã được sắp đặt từ khi Arthur lên 3 tuổi, và được thực hiện vào lúc ông 11 tuổi. Tuy nhiên, 6 tháng sau khi kết hôn với Catherine, Arthur qua đời. Cha của ông, vua Henry VII, vì những lý do chính trị, đã tiếp tục sắp xếp một cuộc hôn nhân khác với Catherine. Lần này người cưới Catherine là Henry VIII, em trai của người anh quá cố.
Sau này, khi những sự cố về việc sinh đẻ của Catherine xảy ra, vua Henry VIII đã tin rằng sự không may này có liên quan đến việc ông cưới vợ của anh trai của mình. Ông đã bày tỏ rõ ràng sự quan ngại này của mình qua việc trích dẫn câu Kinh thánh trong Lê-vi 20:21 khi ông đề nghị hủy hôn với Catherine: “Nếu một người đàn ông lấy chị dâu hay em dâu mình thì đó là điều nhơ nhuốc; người đó đã làm nhục anh em mình. Chúng sẽ không có con cái nối dõi.” Nói một cách ngắn gọn, Henry VIII cho rằng việc ông không có con cái với Catherine là một sự rủa sả vì ông đã lấy chị dâu của mình.
Cũng vì lý do này, ông tin rằng hôn nhân của ông và Catherine đã không đúng đắn ngay từ đầu. Nên điều này đã dẫn đến một mong muốn cụ thể của Henry VIII: Không phải là ly dị Catherine, mà là hủy hôn. Trong khi ly dị là hành động chấm dứt hôn nhân hợp pháp, hủy hôn là sự công bố phủ nhận sự hợp pháp, tính chính thống và hiệu lực của hôn nhân giữa hai người. Catherine là người vợ hợp pháp của Arthur chứ không phải là của ông. Mối quan hệ của ông và Catherine, theo góc nhìn của ông, không phải là một mối quan hệ vợ chồng đàng hoàng và chính đáng. Sự thất bại trong việc sinh con của Catherine đã củng cố cho cách nhìn nhận vấn đề này của Henry VIII. Vì vậy Henry VIII muốn phủ nhận sự chính thống và tính hiệu lực của mối quan hệ được cho là hôn nhân giữa ông và Catherine.
Mối quan hệ giữa Catherine và Giáo hoàng. Trong giai đoạn này thì giáo hội Công giáo La-mã, đứng đầu là Giáo hoàng Clement VII vẫn cần duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nhà nước La-mã, đặc biệt là Hoàng đế La-mã thần thánh Charles V. Mọi thứ sẽ không có gì đặc biệt nếu Catherine không phải là cô của Hoàng đế Charles V. Mối quan hệ cô cháu này được cho là khá gần gũi và có ảnh hưởng đến quyết định của Giáo hoàng Clement VII trong việc bãi bỏ yêu cầu hủy hôn của Henry VIII với Catherine. Charles V đã ủng hộ Catherine trước yêu cầu hủy hôn của Henry VIII, nên đã gây sức ép để Giáo hoàng không chấp thuận đề nghị của vị vua nước Anh. Kết quả là Giáo hoàng đã đưa cho Henry VIII hai lựa chọn, một là quay lại với hôn nhân của mình với Catherine, hai là đối mặt với sự dứt phép thông công.
Quan ngại về quyền lực của vua Henry VIII. Trong nhiều năm đứng trước không những sự khước từ mà còn sự răn đe của Giáo hoàng liên quan đến vụ việc, Henry VIII dần quan ngại về việc để những quyền lực bên ngoài đất nước ảnh hưởng đến những quyết định nội bộ. Ở vị trí một vị vua của một đất nước, mối quan ngại này là chính đáng khi một việc ở trong nước của mình lại cần phải có được sự cho phép từ một thế lực nước ngoài.
Sự ảnh hưởng của phong trào Kháng cách. Cũng trong khoảng thời gian này, toàn bộ Châu Âu đang đón một cơn sóng mới mẻ của phong trào Kháng cách. Những cái tên nổi bật như Martin Luther, John Calvin, và Huldrych Zwingli đang dần thay đổi diện mạo Cơ Đốc Giáo ở châu Âu vào thế kỷ thứ 16. Cơ Đốc Giáo ở Anh cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của phong trào này. Thomas Cranmer, một mục sư, một nhà thần học thân cận với Vua Henry VIII, cùng với Thomas Cromwell – người giữ chức vụ cố vấn của nhà vua, là hai người đi theo phong trào Kháng cách. Họ là những người đã nhận ra sự rạn nứt trong mối quan hệ của Anh giáo và La-mã là một thời cơ quý giá. Vì vậy họ đã khích lệ Henry VIII trong việc đưa Anh giáo ra khỏi hệ thống Công giáo La-mã và trở nên độc lập.
Việc Anh giáo bước ra khỏi Giáo Hội Công giáo La-mã không đơn giản đến từ một động cơ như nhiều người nghĩ đó là để cho Vua Henry có thể lấy được vợ mới. Cũng như mọi sự kiện lớn xảy ra trong lịch sử, sự độc lập của Anh giáo là kết quả của nhiều yếu tố đan xen lẫn nhau, bao gồm có khao khát và niềm tin cá nhân của Henry VIII, sự phức tạp trong các mối quan hệ cũng như quan ngại về quyền lực giữa Anh và Rô-ma, và sự ảnh hưởng mãnh liệt của phong trào Kháng Cách đang diễn ra khắp châu Âu.
Hướng đi độc lập của Anh giáo
Vào năm 1532, Hội thánh tại Anh (hay Anh giáo) đã chính thức bước ra khỏi Công giáo La-mã, trở nên độc lập, và phủ nhận thẩm quyền của Giáo hoàng ở Anh. Hội thánh Ở nước Anh đã trở thành Hội thành CỦA nước Anh.
Vào tháng Năm, 1533, Thomas Cranmer, người được Henry VIII đặt làm Tổng giám mục của Canterbury, đã hủy bỏ tính chính thống và ràng buộc của Henry VIII và Catherine, và một vài ngày sau đó công bố hôn phối hợp pháp giữa Henry VIII và Anne Boleyn. Anne Boleyn đã sinh cho Henry VIII một người con trai: Edward VI, là người đã nối ngôi vua sau này.
Mặc dù rời khỏi Công giáo, Henry VIIII vẫn là một người Công giáo cho đến khi ông qua đời, và các Hội thánh Anh giáo vẫn đi theo các tín lý của Công giáo. Tuy nhiên khi Henry xuất bản bản Mười Chương Tín Lý của ông, ông đã để những khoảng hở cho tín lý Kháng cách phát triển. Sự phát triển của Kháng cách trong Anh giáo là kết quả của những nỗ lực thay đổi các tín lý thần học và thực hành đức tin của những người theo phong trào Kháng cách lúc bấy giờ, đặc biệt là Elizabeth I và Thomas Cranmer.
Elizabeth I và sự hòa giải của bà
Elizabeth I là con gái của Anne Boleyn, là người tiếp quản vương quyền sau khi vua Edward I và hoàng hậu Mary I qua đời. Trong khi đất nước Anh bị chia rẽ bởi sự cay đắng giữa những người theo Công giáo và những người theo Kháng cách, Elizabeth I đã làm rõ ràng quan điểm về niềm tin Kháng cách của bà và ý định mang đất nước Anh đến với sự Cải chánh.
Trong thời trị vì của bà, lối thờ phượng của Anh giáo đã trở nên rõ nét hơn và có tính đặc thù đến mức có thể nhận ra ở cả thời đại bây giờ. Hội thánh Anh giáo một lần nữa được thành lập, Sách Cầu Nguyện Chung (Book of Common Prayer) cùng với 39 Chương Tín Lý đã trở thành tiêu chuẩn cho phụng vụ và tín lý của Hội thánh. Mong muốn của Elizabeth I, cái mà vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tận bây giờ, là sự hòa hợp giữa hai thái cực của Công giáo và Kháng cách – được gọi là trung đạo, hay con đường ở giữa (dịch từ tiếng Latin của via media). Vì mong muốn này của bà đã giải quyết được mối bất hòa giữa những người Công giáo và những người Kháng cách tại Anh, nên sự giải quyết mâu thuẫn này còn được gọi theo tên của bà: Sự hòa giải của Elizabeth (Elizabethan Settlement). Từ đây, các Hội thánh Anh giáo đã mang lấy một đặc điểm độc nhất: vẻ ngoài của Công giáo và tín lý của Kháng cách. Elizabeth I đã mang đến sự cải chánh cho Anh giáo qua việc giải quyết sự mâu thuẫn giữa hai nhóm Cơ Đốc Nhân qua via media, hay trung đạo, và qua việc phát triển của 39 Chương Tín Lý từ 42 Chương Tín Lý của Thomas Cranmer.
Thomas Cranmer và Cải chánh Anh
Dưới thời đại của Henry VIII, Cranmer đã cẩn thận nhưng cũng công khai sự ủng hộ của ông với những ý tưởng Cải chánh trên toàn nước Anh. Không những thế, ông đã thành công trong việc thực hiện được những thay đổi một cách dần dần để đem công cuộc cải chánh đến với Anh giáo. Ông đã phục vụ dưới triều đại của Henry VIII, Edward VI, và Mary I. Dưới triều của Edward VI ông đã thực hiện được những thay đổi về mặt tín lý nhằm kéo Anh giáo theo hướng Cải chánh. Vào năm 1553 ông đã viết ra 42 Chương Tín Lý, là tài liệu đặt nền tảng cho 39 Chương Tín Lý mà sau này Elizabeth phát triển.
Cranmer, cũng như những nhà Cải chánh đương thời, là một người yêu mến Kinh thánh một cách sâu sắc và tin rằng nó có quyền năng biến đổi mà không cần sự can thiệp của con người. Khi ông trở thành Tổng giám mục, ông đã chịu trách nhiệm thiết kế những hệ thống tín lý và phụng vụ đầu tiên của Anh giáo cải chánh. Ông đã hủy bỏ những tín lý và các thực hành đức tin sai lệch, và ông thay thế vào đó bằng phụng vụ và cách thờ phượng có gốc rễ từ Kinh thánh. Những điều này đã được kết tinh thành Sách Cầu Nguyện Chung mà ông viết.
42 Chương Tín Lý và Sách Cầu Nguyện Chung là hai trong số những đóng góp vĩ đại của Thomas Cranmer cho sự phát triển của Anh giáo theo hướng đi của Tin lành cải chánh. Những đóng góp này đã đặt nền móng cho những sự phát triển về sau của Anh giáo, cái mà thành hình đặc biệt rõ nét trong thời trị vì của Elizabeth I.
Elizabeth I và Thomas Cranmer là hai cái tên tiêu biểu trong số nhiều người Anh giáo đã đưa Anh giáo đi ra khỏi tín lý Công giáo và những thực hành đức tin không có nền tảng của Kinh Thánh. Họ đã giúp Anh giáo phát triển theo hướng độc nhất mà không có một hệ phái nào có: trung hòa giữa tín lý Kháng cách và vẻ ngoài của Công giáo. Cùng với đó là mang đến sự giàu có trong ý nghĩa của các hình thức thực hành đức tin bám theo tiêu chuẩn của Kinh thánh.
Kết luận
Sự thành lập và phát triển của Hội thánh Anh giáo không chỉ đơn thuần là đến từ một mong muốn ly dị của vua Henry VIII. Nhưng nó đòi hỏi một quá trình dài và mất nhiều công sức để khiến cho một hệ phái Cơ Đốc giáo có thể trở thành một trong các hệ phái Kháng cách chính thống lớn nhất thế giới. Qua bài viết sơ lược về lịch sử hình thành của Anh giáo, chúng ta thấy được những ngày đầu tiên Anh giáo được thành lập tại vùng đất Anh, những yếu tố đan xen nhau dẫn đến sự rời khỏi Công giáo La-mã, sự phát triển về tín lý, cũng như cách thờ phượng theo hướng Tin lành cải chánh của Anh giáo, cùng với sự đóng góp không nhỏ của những người Anh giáo yêu mến sự hòa thuận và Kinh thánh. Vì vậy, cũng như các sự kiện lịch sử quan trọng, việc tóm gọn sự hình thành Anh giáo bằng một câu nói tóm tắt đơn giản như “Anh giáo hình thành từ một vụ ly dị của vua Henry VIII” là một điều bất khả thi và không đem lại lợi ích gì cho cả người nói và người nghe vì nó ngây thơ và không chính xác.
Tác giả: Nguyễn Quý Hoàng Anh
References: Một phần của bài viết được viết dựa vào Jospeh Thambiah, “Anglican History: Global and Local,” trong Anglicanism in Singapore, ed. Joseph Thambiah (Singapore: World Scientific Publishing Co. Pte. Ltd, 2024)



